Vô Nhất Đại Sư Thích Thiền Tâm - tiếp theo PDF In E-mail
Đăng bởi Tuệ Dũng   
Mục Lục
Vô Nhất Đại Sư Thích Thiền Tâm - tiếp theo
Phần 5
Phần 6
Phần 7
Phần 8
Xem toàn bộ
- Cũng biết chút đỉnh.

(Đây là duyên khởi để cho Cố Hòa Thượng biết rõ nơi “Tân trụ xứ” của mình …)

- Và bây giờ, ngài đã biết được Đại Ninh cùng Phú An nằm ở nơi nào trên bản đồ Việt Nam rồi. (Đúng như ngài đã nghĩ là Phật, Bồ Tát sẽ khiến có người tới mách giúp, chỉ chỗ cho mình)

(Sau đó, những việc như hỏi kỹ địa điểm, đường đi nước bước, đến xem cuộc đất v.v… Là lẽ đương nhiên cần phái tiến hành – xin miễn đề cập tới cho đỡ dài dòng và tinh giảm hơi sức)

Cuối tháng 12/1967, ngài đến Viện Hóa Đạo nơi chùa Ấn Quang, đảnh lễ sư phụ là Hòa Thượng Hội chủ THÍCH THIỆN HÒA (Phó Tăng Thống) trình bày các lý do sau đây:

- Chánh trị đã xâm nhập vào Phật Học Viện (do mấy thầy lớn mang vào).
- Chư học Tăng không tuân theo giáo quy của nhà trường.

- Mấy thầy đồng song (bạn cùng tu) bất chấp sự thanh tịnh cần phải có của Phật Học Viện, thường xuyên tới lui, vận động phe phái chánh trị, sách động biểu tình v.v…

- Và như vậy là không thích hợp với sở nguyện (chuyên tu) của mình.

- Ơn Thầy Tổ, Giáo hội và đàn na tín thí cũng đáp đền xong. Nay đã đến lúc cần phải lo phần tịnh tu giải thoát... cùng một số lý do khác (như sức khỏe yếu kém v.v…).

Xin được từ chức Đốc giáo Phật Học Viện Huệ Nghiêm, giao trách nhiệm lại cho đệ I phụ tá là Thượng tọa THÍCH BỬU HUỆ thay thế.

Ban đầu, Hòa Thượng Hội chủ không chấp nhận, nhưng cuối cùng, đối đế quá không biết làm sao hơn nên buộc lòng phải chịu để cho ngài từ chức với điều kiện là phải từ từ chớ không được gấp quá Hòa Thượng dạy:

- Ta chấp nhận cho con từ chức ẩn tu theo sở nguyện nhưng chưa liền bây giờ mà phải chờ qua đến năm 1968 mới được đi.

Vì muốn cho sư phụ vui lòng nên ngài mới hoãn lại việc ra đi của mình và bàn giao từ từ lại cho TT. Bửu Huệ. Mãi cho đến giữa năm 1968 mới hoàn tất được hết mọi chuyện.

Trong thời gian này, thỉnh thoảng thì ngài cũng có đi đi, về về giữa Sàigòn (Huệ Nghiêm) và Đại Ninh, xúc tiến việc mua đất và mướn người Thượng(*) phát quang cây cối chung quanh vùng cho trống trải để chuẩn bị cất tịnh thất ẩn tu.

Ghi chú:

(*) Vì vùng đất mà cố Hòa thượng chọn để ẩn tu nằm cách quốc lộ khoảng 3 cây số, cạnh sông Đại Ninh của đập thủy điện Đa Nhim, nơi đây rất ít có người Kinh (Việt) ở lắm, đa số là dân sắc tộc thiểu số cư ngụ (95% cư dân nơi đây là người Thượng).

Những lúc ngài bận đi vắng như thế thì tịnh thất của ngài tại Phật Học viện Huệ Nghiêm giao cho một học tăng thị giả trông coi, (tịnh thất chỉ là một am nhỏ, lợp bằng lá dừa nước, đơn sơ và đạm bạc) quét dọn xem sóc mỗi ngày.

Có một vài chuyện cũng rất lạ lùng (và huyền bí) ở nơi tịnh thất của ngài như sau: (Thuật lại theo lời kể của một số học tăng tại Huệ Nghiêm).

- Nguyên lần đó, sau khi quét dọn bên trong tịnh thất của ngài xong rồi thì vị học tăng ấy cảm thấy hơi mệt mỏi nên khởi ra ý nghĩ là muốn tìm chỗ (đâu đó) để ngồi dựa lưng cho thoải mái và “giãn gân cốt”. Trong khi đi ngang qua bàn viết của ngài, thầy ấy tò mò nhìn vào thì thấy trên bàn đang để dở một quyển kinh (bằng chữ Nho) cùng với xấp bản thảo kinh mà ngài đang phiên dịch nên đứng lại xem (cho biết).

Thấy hay hay, và lại vì cũng đang mệt và muốn tìm chỗ ngồi để dựa lưng một chút, thôi thì sẵn có bureau và ghế đây, ta hãy cứ (tạm làm thượng tọa), ngồi vào khỏe và xem kinh luôn cho nó được “nhứt cử lưỡng tiện” (còn hơn là đứng hoài mỏi chân lắm!) Chắc có lẽ vì nghĩ như vậy nên thầy mới “vui vẻ”, khỏe khoắn “bình tọa” ngay trên ghế “thượng tọa” và cầm lấy xấp bản thảo kinh đang dịch lên xem. Nhưng vừa mới ngồi xuống xong chưa đầy một phút đồng hồ sau thì thầy bỗng chợt có cảm giác dường như chóng mặt, nên cố gắng định thần lại, thì thấy mơ hồ có một bóng người cao lớn đi đến đứng bên cạnh bàn viết, lấy tay chỉ vào người này nói với giọng giận dữ:

- Người hãy đứng lên cho mau, sao dám ngồi nơi bảo tọa của Đại Đức Pháp Sư – đoạn lấy tay xô một cái, khiến vị học tăng này té nhào xuống đất, làm cho thầy sợ quá, vội vã ngồi dậy và chạy ra ngoài.

Đây là một chuyện.

Và thêm một lần nữa, đêm đó vị học tăng khác có trách nhiệm trông nom tịnh thất của ngài, bỗng nhiên khởi lên ý nghĩ là tối nay sẽ ngủ lại trong thất của cố Hòa thượng (có lẽ thầy này cũng muốn thử xem ta có đủ “đạo lực” để nằm trên giường ngủ của “ông già” hay không. Bạn ta hôm trước mới vừa ngồi vào ghế của “ổng” thì bị xô té xuống, còn ta thì đêm nay sẽ nằm ngủ ở trên giường của “ổng” để thử xem có chuyện gì xảy ra không cho biết. Nếu mà có “cái gì đó” xảy ra cho ta thì ta sẽ phục “ông già” tu cao, còn nếu như mà ta vẫn thẳng cẳng ngủ khò một giấc cho đến sáng hôm sau thì té ra là bạn ta “nói xạo”).

Chắc có lẽ vì nghĩ như thế nên tối hôm đó thầy này không trở về phòng của mình mà lại leo lên trên giường của “ông già”, định bụng là sẽ “đánh một giấc” thẳng thừng cho khỏe. Nào dè đâu vừa nằm xuống, mới nhắm mắt thiu thiu thì thầy bỗng mơ màng thấy có một người đi đến đứng bên cạnh đầu giường, nhìn thấy một lúc rồi tỏ sắc giận mà bảo:

- Người là ai, sao dám cả gan nằm ngủ nơi đây. Hãy dậy và đi xuống ngay lập tức. Nói xong thì vị này đi ra ngoài phía bàn dịch kinh (Hộ pháp). Thầy này lúc đó phần thì buồn ngủ nên làm biếng dậy, phần thì nghĩ rằng: ta dây cũng “đường đường tăng tướng”, Đại Đức như ai vậy, ta không sợ đâu, cứ nằm lỳ ở đây thử xem đó làm gì được ta cho biết (kể ra thì thầy này cũng can trường dữ).

Đoạn thầy nằm xuống luôn chớ không chịu đi xuống theo như lời bảo khi nãy. Khoảng chừng 5 –10 phút sau, thầy thấy có 5, 6 người khác nữa đi đến, đứng nơi đầu nằm, vị đứng giữa hình như là cấp chỉ huy, mặc áo vàng, gương mặt oai vũ và có vẻ giận dữ nói:

- Đã bảo rồi mà ngươi vẫn còn chưa chịu xuống hay sao? Nói xong lấy tay khoác một cái làm cho thầy này có cảm giác bị lạnh buốt phía sau lưng, một sức lạnh thấu xương xuyên qua da thịt, tựa như có bàn tay khổng lồ bằng nước đá bợ lưng của thầy lên cao và hất xuống đất, khiến thầy bị rét run, lập cập nói không ra tiếng, la ú ớ một hồi rồi ngồi bật dậy, vội vã chạy ra khỏi phòng, mặt mày tái mét lên vì sợ.

Hai câu chuyện này được kể ra làm cho các học tăng trong Phật Học Viện (thời đó) ai cũng đều lắc đầu, le lưỡi mà nói rằng: “Ông già” của mình tu cao ác (ôn) đến nỗi chỗ ngồi và chỗ nằm của ổng mà cũng có “long thần, hộ pháp” coi giữ nữa.

XA CHỐN THỊ THÀNH VỀ A LAN NHÃ

(Rời thành phố về nơi ẩn tu)

Khoảng giữa năm 1968, việc xây cất Hương Quang tịnh thất ở Phú An đã xong, ngài chánh thức dâng đơn từ chức lên Viện Hóa Đạo, mặc dầu rất thương tiếc cho một người đệ tử vừa có tài, vừa có đức, tuổi còn nhỏ mà đã sớm ẩn tu (năm đó ngài được 43 tuổi) nhưng biết rằng không thể nào lưu giữ con người đại tâm, đại bi, đại nguyện này lại được cả, bất đắc dĩ Hòa thượng Hội Chủ kiêm Phó Tăng Thống và Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang THÍCH THIỆN HÒA bắt buộc phải chấp đơn để cho ngài được thành toàn chí nguyện (mà trong lòng buồn lắm).

Chức vụ Đốc giáo Phật học viện Huệ Nghiêm được bàn giao lại cho Thượng Tọa đệ nhất phụ tá là Thượng Tọa Thích Bửu Huệ, và riêng về phần ngài, thêm một lần nữa (và cũng là lần cuối cùng) lên đường nhập thất ẩn tu vô thời hạn nơi vùng rừng núi cao nguyên của miền Trung nước Việt:

- Tổng Đại Ninh, thôn Phú An, xã Phú Hội, quận Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (Đà Lạt). Một địa danh hoàn toàn xa lạ đối với tất cả chư Tăng, Ni, Phật tử nơi chốn thị thành.

(Đến đây Bảo Đăng tôi xin tạm dừng bút đôi phút để bình luận về việc này, một việc có thể gọi là “phi thường” mà xem như 100% chư Tăng đương thời không một ai dám nghĩ đến huống chi là thực hành!

- Ngay như cố Hòa thượng đây là một đại tăng, tuổi đời còn nhỏ (43) tài cao, đức trọng có danh chức và địa vị lớn trong giáo hội, làm Đốc giáo một Phật học viện nổi danh, Phật tử đông nhiều, ai nấy cũng đều cung kính, quý trọng … ấy vậy mà ngài vẫn không đoái tưởng đến, vứt bỏ hết tất cả chẳng chút luyến lưu, một thân, một bóng bơ vơ về ẩn tu nơi miền rừng xa, núi vắng, giữ đời sống đạm bạc, an vui, tuyệt dấu thị thành.

Nếu không phải là một bậc đại căn, đại lực, hỏi mấy ai dám “cả gan” đương nổi việc này.)

Trong Kinh “Đại Bảo Tích chương Pháp Hội Phú Lâu Na, phẩm Bồ Tát hanh”, Phật có dạy rằng:... Lại này Phú Lâu Na, Đại Bồ tát có thể rời lìa ngũ dục, thường thích xuất gia, tâm thuận xuất gia, xu hướng xuất gia, chẳng ham ngũ dục. Khi được xuất gia rồi thì rời bỏ chốn ồn náo, ở xa nơi núi rừng, chẳng mất pháp lành. Bồ tát hay thành tựu được Pháp này thì sẽ được đầy đủ tất cả công đức.

Đức Thế Tôn muốn sáng tỏ lại nghĩa này mà nói kệ rằng:
Tâm thường thích xuất gia,
Mà hay thường xuất gia.
Ưa thích ở núi rừng,
Chỗ tăng ích công đức.
Ở tại chỗ rảnh vắng, (1)
Thì lìa ngũ dục lạc,
Nơi ấy không ồn náo,
Không mất duyên pháp lành.
Không phải bận chuyện trò,
Đến, lui, thăm viếng nhau.
Ưa rảnh rang, vắng vẻ,
Được chư phật ngợi khen.
Vì thế chư Bồ Tát.
Phải thường ở rảnh vắng.
Chớ tham ưa thành thị,
Chỗ sanh tâm lợi dưỡng.
Nếu được lợi thì mừng,
Khi mất sanh lo buồn.
Người này dầu cúng Phật,
Chẳng gọi là cúng dường.
Muốn trừ các lỗi này,
Phải thường lìa lợi dưỡng.
Nương thân nơi lan nhã,
Tu tập các pháp không …

(Vô Nhất Đại sư - Cố Hòa Thượng Đại Ninh, Thích Thiền Tâm, chính là hạng người mà Phật đã đề cập cùng nhắn nhủ đến trong phần kinh này vậy).

Ghi chú:

(1) Nơi rảnh vắng: tức là rảnh rang và vắng vẻ, còn có một tên khác nữa là A Lan Nhã.

Sau ngày Cố Hòa Thượng rời khỏi Huệ Nghiêm về ẩn tu nơi miền sơn cước Đại Ninh rồi, thì những Phật tử trước kia đã từng quen biết với ngài tại Sài Gòn và khắp cả các nơi, thảy đều mang lòng nhớ thương, hoài vọng. Riêng các hàng tứ chúng có tâm chân thật tu hành ai nấy cũng đều ngầm tiếc nuối cho một bậc đạo cao, đức trọng, đã dũng mãnh xả hết tất cả lợi danh, chùa to, Phật lớn cùng với các vinh dự hiện có của mình trong giáo hội mà quy ẩn quá sớm nơi miền đồng núi xa xôi, cam phần đạm bạc đúng theo như chí nguyện của kẻ xuất trần.

Và mọi người (Phật tử chơn chánh) cũng đều biết thêm rằng:

- Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhứt đã bị mất đi một vị đại Tăng lỗi lạc, tài đức song toàn, thật tu, thật hạnh (Trong khi các vị Tăng sĩ giả tu, hoặc “mượn đạo tạo đời”, hoặc đắm mê danh lợi, hoặc nương nơi hình thức Phật giáo để làm chánh trị, mưu cầu quyền chức cá nhân, hoặc tiếp tay cho những người đối nghịch, quấy rối, xách động biểu tình, làm đảo loạn sự trị an trong nước v.v… thì vẫn còn nhan nhãn khắp nơi trong Giáo hội với các chức vụ này, kia quan trọng … mà lắc đầu, ngán ngẩm cho cả hai phương diện: Thế thái lẫn nhơn tình!

(Dạo ấy có người làm thơ than thở, nhớ tiếc cố Hòa Thượng rất nhiều, nhưng vì đã gần 30 năm trôi qua rồi nên hầu hết đều bị thất lạc. Trong hai lần về lại Việt Nam để truy tìm thêm tài liệu của cố Hòa Thượng cho quyển sách này, Bảo Đăng tôi chỉ góp nhặt được một ít đoạn thơ sau đây, nay cũng xin biên lên để mà “thêm nhớ thương” cho một vị Đại sư đã được nhiều cảm mến nhất của hầu hết Phật tử...

Chẳng hạn như:

Con chim cánh trắng bay về núi (1)

Bỏ chốn tương tranh lắm não phiền,

Xa lìa nhân thế đảo điên,

Lánh nơi tục lụy, đáo miền thần tiên...

Ghi chú:

(1) Chim cánh trắng là chim bồ câu: Đây là một loại chim được cả thế giới gọi là “chim hòa bình”. Riêng trong các bài thơ này có ý ám chỉ cho Hòa thượng là người hiền lành, không ưa tranh đấu.

Hoặc là:

Cánh trắng chim kia khuất dạng rồi,

Quân tử đau lòng khóc hởi ôi!

Trách bấy nhân tình sao đảo loạn,

(Biết đến thuở nao trùng hợp lại).

Hối nhiều cho mấy cũng đành thôi!

Và như sau đây:

Chim cánh trắng bay nhanh,
Về Đại Ninh núi xanh.
Một mình không bạn lữ,
An ẩn chốn am tranh.
Ngoảnh đầu trông ngùi ngậm,
Thương xót bạn đồng hành.
Tài danh cùng chức vị,
Mê đắm chạy vòng quanh.

Kể từ đó về sau, “con chim cánh trắng “THÍCH THIỀN TÂM” đã “cắt đứt dây chuông” rồi, (Mặc cho chú Điệp đứng bên ngoài cổng kêu khản tiếng) phần của ngài nay đã an nơi miền lan nhã, chỉ tội nghiệp cho những người còn lại, cưu lòng đắm lợi tham danh, lao nhao nơi chốn hí trường, như ý của đoạn thơ sau:

Mắt nhìn xem đã rõ, …
Lòng cắt mối tơ vương,
Mặc kẻ lao nhao chốn hí trường.
Ta lều tranh, núi biếc,
Trong bổn phận lo lường,
Nay tùy duyên thong thả,
Mai rửa bát đốt hương, (1)

Đem tâm quy hướng cõi thanh lương.

Mênh mang kìa biển nghiệp,
Đau khổ biết bao dường!
Quay đầu trông lại thấy thêm thương!

(Người bạn sen)

Ghi chú:

(1) Rửa bát: tức là rửa chén (dơ thành sạch) – ở đây dụ cái bát dơ cho cái tâm (dơ bẩn) của mình. Nên ở trong đạo Phật, nói rửa bát đây thì phải hiểu là rửa cái tâm của mình (cho nó sạch đi đặng hạp với tâm của Phật, Bồ tát, Tổ sư …)

(Đến đây, trước khi qua một chương mới, Bảo Đăng tôi xin lưu ý quý độc giả một điểm rất quan trọng về thời gian rời Sài Gòn của Cố Hòa Thượng để về Đại Ninh ẩn tu như sau:

- Đó là một sự trùng hợp ngẫu nhiên (nhưng đã có tiền định rồi) giữa các sự việc:

1. Ngài muốn rời Sài Gòn vào cuối năm 1967, nhưng ân sư của ngài là Hòa Thượng THIỆN HÒA chỉ cho phép ngài đi vào năm 1968 mà thôi.

2. Trong bài kệ tiên tri về cuộc đời của ngài do đức Chuẩn đề Bồ tát và bổn sư Phật Ấn trao cho có câu mở đầu rằng: Sáu tám lắm gian nan.

Là ý nói đến năm 1968 ngài mới bắt đầu rời Huệ Nghiêm (Sài Gòn) để ra Đại Ninh được.

3. Việc xây cất Hương Quang tịnh thất mãi cho đến năm 1968 mới xong.

4. Đến năm 1968 ngài mới được chấp đơn cho từ chức để ẩn tu.

Như thế thì ta thấy rằng:bốn, năm cái 1968 xảo hợp lẫn nhau như vậy đều là do tiền định cả. Dù ngài có muốn cải đổi hay rút ngắn thời gian lại cho sớm hơn (1967) cũng không được nữa.